Chương 104
bởi Chung SeikerLần này, âm thanh phát ra không trầm đục mà trong trẻo, thanh mảnh như một sợi chỉ mỏng, mơn man, trêu đùa các giác quan của Cheon Mu-gyeong. Trong khi lắng nghe giai điệu còn đang nắn nót, Mu-gyeong không rời mắt khỏi Ho-yeon.
Ngồi trên phiến đá phẳng, Ho-yeon gảy vài nốt dạo đầu rồi ngẩng lên nhìn Mu-gyeong, nở nụ cười bẽn lẽn.
“Đây là lần đầu ta đàn cho người khác nghe đấy.”
Nghĩ lại thì Băng Long đâu phải con người, nên câu đó hoàn toàn đúng. Ho-yeon cố gắng hít một hơi thật sâu để xua đi sự hồi hộp. Nhìn hơi thở trắng xóa mỏng manh tan vào không khí, Mu-gyeong thoáng thấy tiếc nuối.
Từ trước đến nay, tham vọng duy nhất của Mu-gyeong là đạt đến đỉnh cao võ học. Sinh ra ở Ma Giáo, đương nhiên hắn phải luyện ma công, nhưng dù có xuất thân từ Cửu Phái Nhất Bang (1) danh giá thì khát khao chiến thắng và theo đuổi sức mạnh của hắn cũng chẳng có gì thay đổi.
Hắn từng thề sẽ không sống như Giáo chủ, nhưng chưa từng nếm trải cảm giác yêu thương hay rung động là gì. Nhìn Nhất Công tử Cheon Beom-yeong chìm đắm trong tửu sắc, hắn chỉ thấy thật thảm hại.
Nói về đàn thất huyền, Âm Yêu Hoa được xưng tụng là đệ nhất thiên hạ. Nhan sắc của ả ta tuyệt trần đến mức tin đồn vang xa khắp Trung Nguyên. Phân Đà chủ Cái Bang ở Lạc Dương, gã ăn mày hào hoa Song Seon, vì muốn nhìn thấy Âm Yêu Hoa mà lén lút đột nhập vào Thập Vạn Đại Sơn rồi mất tích. Ba tháng sau, hắn thoát khỏi trận pháp của Ma Giáo trong tình trạng thoi thóp, sắp chết đói. Câu chuyện đó ai ai cũng biết.
Nhưng dù là Âm Yêu Hoa hay bất kỳ ai, cũng chưa từng khiến Mu-gyeong phải ngoái nhìn. Mu-gyeong thấy hoang mang. Cảm giác khao khát chiếm hữu Wi Ho-yeon rốt cuộc bắt nguồn từ đâu?
Hang động Vạn Niên Tuyết Sơn này chẳng khác nào Tiềm Ma Động. Cùng là không gian biệt lập, thức ăn duy nhất chỉ là Tích Cốc Đan.
Tiềm Ma Động có dã thú, nhưng nơi này lại có Băng Long, một sinh vật còn đáng sợ hơn gấp ngàn lần. Khi những đứa trẻ bên cạnh lần lượt chết đi, Ho-yeon chắc chắn không hề hả hê vì bớt đi một miệng ăn. Y hẳn là người đau buồn nhất.
Wi Ho-yeon hoàn toàn khác biệt với những kẻ hắn từng gặp. Phải chăng người Bắc Hải ai cũng sinh ra với bản tính lương thiện như y? Nhưng Mu-gyeong biết rõ điều đó là không thể.
Đơn giản vì Wi Ho-yeon là Wi Ho-yeon. Hắn cảm thấy mình thật may mắn vì đã tìm thấy sự lương thiện được giấu kín nơi y. Dù không hiểu tại sao Băng Long lại bảo bọc Ho-yeon, nhưng chắc chắn trong mắt con linh thú đó, sự tồn tại của y cũng vô cùng đáng yêu.
Nhìn lướt qua cũng biết cây đàn thất huyền trong lòng Ho-yeon không phải hạng tầm thường. Dọc theo những vết nứt do năm tháng hằn trên lớp sơn mài, ánh lên một độ bóng huyền ảo, bề mặt nhẵn mịn như viên ngọc quý được đánh bóng kỹ càng. Nếu Âm Yêu Hoa nhìn thấy bảo vật này, ả sẵn sàng giết người cướp của để có được nó.
Bàn cờ cũng vậy. Bốn góc bàn cờ được đẽo gọt nguyên khối từ gỗ trầm hương, tạc hình con hổ đang phủ phục chống đỡ, kiểu dáng thường thấy ở những bậc quyền quý hay quan lại cấp cao ở Trung Nguyên. Ngay cả những đường kẻ trên bàn cờ cũng được khảm bằng chỉ vàng. Xấp lụa dùng để thêu, hay tấm da báo tuyết thay cho giường nệm, tất cả đều là cực phẩm.
Kích thước của tấm da lông cho thấy con báo tuyết đó phải to bằng ba bốn con gộp lại, chiếc đuôi dài và dày cộm chứng tỏ sức mạnh của loài mãnh thú này. Chắc chắn Băng Long đã săn con linh thú cai quản ngọn núi tuyết này để mang về đây.
Lấy được đồ tốt thế mà lại không thèm kiếm chút thức ăn tử tế nào cho y, xem ra con rồng đó cũng chẳng tinh tế gì.
Mu-gyeong lại có thêm một lý do để lấy mạng Băng Long. Hắn không muốn chia sẻ Wi Ho-yeon với bất kỳ ai, kể cả một con rồng.
Khi nào thoát khỏi đây, việc đầu tiên hắn làm sẽ là đặt lò sưởi ở khắp mọi nơi Wi Ho-yeon đi qua. Nhìn đôi bàn tay và khuôn mặt đỏ ửng vì lạnh của y thật khiến người ta xót xa, hắn quyết không để y phải chịu rét thêm một lần nào nữa. Và hắn cũng sẽ lóc hết xương món bánh Seolgo nóng hổi đang bốc khói kia – món mà chính hắn cũng chưa từng nếm thử – để đút cho y ăn.
‘Nhỡ đâu Băng Long chỉ an ủi, khen mình đàn hay thì sao?’
Bị đôi mắt đỏ rực của Mu-gyeong nhìn chằm chằm, Ho-yeon bỗng dưng căng thẳng lạ thường. Ánh mắt hắn như đang soi xét xem kỹ năng chơi đàn của y đạt đến mức nào.
“Lúc nãy ta bảo ta đàn giỏi…, ý ta không phải là tài năng xuất chúng gì đâu, chỉ là ta hay đàn thôi. Ngươi đừng kỳ vọng quá nhé.”
Lời bào chữa vụng về nghe sao mà yếu ớt.
“Ta tưởng ngươi đàn xong rồi chứ.”
Mu-gyeong buông lời trêu ghẹo khi thấy y cứ gảy đàn tưng tưng để chỉnh âm. Nụ cười tinh quái của hắn khiến Ho-yeon cảm thấy như có một ngọn lửa bùng lên trong ngực.
“Vừa nãy chỉ là… chỉnh âm thôi mà.”
Ho-yeon hắng giọng, lấy lại bình tĩnh, ra hiệu chuẩn bị bắt đầu.
“Ngươi định đàn bài gì.”
“Cao Sơn (高山)! Ta thích bài này nhất!”
Được mẹ dạy đàn thất huyền từ nhỏ, Ho-yeon cực kỳ tâm đắc với giai thoại về Bá Nha và Tử Kỳ. Và Cao Sơn là tên bản nhạc Bá Nha từng đàn.
“Ngươi có biết Bá Nha và Tử Kỳ là ai không?”
“Không.”
Phát hiện ra mình biết một thứ mà Mu-gyeong đa tài đa nghệ kia không biết, mắt Ho-yeon sáng rực lên.
Bá Nha là một nhạc sư đánh đàn thất huyền, ông luôn cảm thấy mãn nguyện vì có Tử Kỳ – người bạn tri âm thấu hiểu trọn vẹn tiếng đàn của mình – ở bên cạnh.
Khi Bá Nha đánh đàn với tâm niệm về ngọn núi cao, Tử Kỳ liền cảm thán tiếng đàn hùng vĩ như núi Thái Sơn; khi đánh với tâm niệm về dòng nước chảy, Tử Kỳ lại khen ngợi tiếng đàn cuồn cuộn như sóng nước sông Hoàng Hà. Hai người giao cảm sâu sắc qua từng nốt nhạc.
Thế nhưng, khi người bạn tri âm duy nhất qua đời vì bạo bệnh, Bá Nha đau buồn tột độ, đã bẻ gãy đàn và thề không bao giờ gảy đàn nữa. Từ đó, người đời dùng câu “Bá Nha Tuyệt Huyền” (Bá Nha bẻ gãy dây đàn) để chỉ sự mất mát của tình bạn tri kỷ.
Ho-yeon say sưa kể lại câu chuyện về Bá Nha và Tử Kỳ mà mẹ từng kể cho Mu-gyeong nghe. Kể xong, y bất ngờ thổ lộ điều mình thực sự muốn nói.
“Ta mong chúng ta cũng sẽ trở thành những người bạn thân thiết như Bá Nha và Tử Kỳ.”
“Bạn thân thiết.”
Mu-gyeong lặp lại từ ngữ xa lạ đó. Ho-yeon hào hứng gật đầu liên tục. Cheon Mu-gyeong khẽ nhíu mày. Theo như câu chuyện thì hắn sẽ là Tử Kỳ, người lắng nghe, nhưng hắn không tưởng tượng nổi cảnh mình lại đi “chầu diêm vương” trước Wi Ho-yeon.
Nếu có người phải ra đi trước, thì đó phải là Wi Ho-yeon, Mu-gyeong thầm nghĩ rồi dập tắt ngay suy nghĩ ấy. Hắn sẽ dốc hết linh dược quý giá nhất cho Wi Ho-yeon, tuyệt đối không để y chết sớm.
Đưa ra quyết định một cách dứt khoát, hắn ngồi phịch xuống sàn đối diện với Ho-yeon. Dù phải ngước nhìn Ho-yeon từ dưới lên, hắn cũng chẳng hề bận tâm.
“Wi Ho-yeon, ta không có ý định làm bạn thân với ngươi đâu.”
Câu nói như sét đánh ngang tai khiến khuôn mặt Ho-yeon tràn ngập vẻ thất vọng.
“À, ta biết là chúng ta cần thêm thời gian để tìm hiểu nhau. Dù không thân thiết như Bá Nha và Tử Kỳ…, nhưng ít nhất cũng có thể làm bạn mà.”
“Ta không rảnh đến mức chu cấp chỗ ở và lo chuyện bao đồng cho bạn bè đâu.”
Một câu nói đầy ẩn ý. Cứ như thể hắn đang ngầm khẳng định: “Ta sẽ không làm thế cho bạn bè, chỉ làm điều đó cho một mối quan hệ đặc biệt hơn thế”. Mà đặc biệt hơn bạn thân thì có gì? Ho-yeon chỉ nghĩ đến gia đình.
Khác với sự bối rối của Ho-yeon, ngay khi buột miệng thốt ra những lời đó, Mu-gyeong đã nhận ra thứ cảm xúc mà mình dành cho Wi Ho-yeon rốt cuộc là gì. Khao khát được bảo bọc, che chở cho một gã đàn ông giống mình, câu trả lời đã quá rõ ràng.
“Ngươi cứ lề mề là ta lại càng kỳ vọng đấy.”
“Đàn ngay đây!”
Sợ Mu-gyeong trông ngóng, Ho-yeon cúi mặt vào cây đàn. Vẻ lúng túng biến mất, thay vào đó là sự tập trung cao độ của một nghệ nhân thực thụ.
Bảy sợi dây đàn ánh lên vẻ lạnh lẽo, sắc sảo. Khi những ngón tay thon dài lướt qua, âm thanh vang lên phá vỡ sự tĩnh lặng, lan tỏa vào không trung. Tiếng đàn vang vọng trong hang động khổng lồ, không lạnh lẽo mà lại ấm áp, dịu dàng.
Khúc nhạc sinh ra từ những ngón tay nhảy múa trên dây đàn có lúc mãnh liệt như bầu trời giông bão, có lúc tĩnh lặng, trong trẻo như cao nguyên tuyết trắng Bắc Hải. Giai điệu càng lên cao trào, mái tóc bồng bềnh của Ho-yeon càng lay động như những gợn sóng âm thanh hữu hình.
Khúc nhạc tái hiện sự hùng vĩ của Thái Sơn gợi lên hình ảnh Thập Vạn Đại Sơn, đồng thời cũng vẽ nên hình dáng vĩ đại của Vạn Niên Tuyết Sơn mà y chưa từng được chiêm ngưỡng trọn vẹn.
Hắn chưa từng được nghe Bá Nha đàn, nhưng nếu Tử Kỳ giống hắn lúc này, chắc chắn cũng sẽ có cùng suy nghĩ.
Rằng, không muốn để bất kỳ ai khác nhìn thấy hay nghe thấy cảnh y gảy đàn.
Cheon Mu-gyeong có cảm giác như mình đang lén lút chiêm ngưỡng một vị tiên đang gảy đàn trên tiên giới. Ngồi ở vị trí thấp hơn, hắn càng thấy bản thân mình nhỏ bé, nực cười. Hùng hồn hứa hẹn sẽ xây nhà, sẽ trả thù cho y, vậy mà giờ đến lối ra còn chưa tìm thấy, quả thực là kẻ chỉ biết thùng rỗng kêu to.
Khi Ho-yeon nhẹ nhàng ấn ngón tay vào dây đàn ở nốt cuối cùng, một âm thanh thanh mảnh, ngân vang để lại dư âm len lỏi khắp hang động. Tiếng đàn đã dứt, nhưng dư âm của nó vẫn còn vang vọng bên tai Mu-gyeong.
“Wi Ho-yeon.”
“Hửm?”
“Ta nhất định sẽ trở thành Giáo chủ.”
Hắn sẽ chứng minh mình không phải là kẻ chỉ biết nói suông. Mu-gyeong dõng dạc tuyên bố tham vọng của mình với Ho-yeon. Hắn đã luyện thành Thiên Ma Thần Công, đạt đến cảnh giới Cực Ma, Giáo chủ hiện tại quyết không phải là đối thủ của hắn.
Ho-yeon còn chưa kịp tò mò xem hắn nghĩ gì về tiếng đàn của mình thì đã nói lắp bắp, Gi, Giáo chủ? Chẳng phải Giáo chủ là người đứng đầu Ma Giáo sao?
“Và ngươi sẽ trở thành Đường chủ Âm Biệt Đường, quản lý toàn bộ nhạc công của Bản giáo.”
Ta á? Ho-yeon kinh ngạc chỉ vào mình. Vừa thấy tự hào vì tiếng đàn của mình lại xuất sắc đến vậy, vừa xen lẫn niềm vui sướng khó tả.
“Lịch sử sẽ ghi nhận ngươi là sự tồn tại được Thiên Ma trân quý nhất, vượt xa cả tình cảm của Bá Nha và Tử Kỳ.”
Ngồi bệt dưới sàn, Mu-gyeong nở một nụ cười đầy kiêu hãnh.
Giáo chủ và Thiên Ma thì có gì khác nhau nhỉ? Tò mò là vậy nhưng Ho-yeon không cất nên lời.
Bởi vì dù đang cúi nhìn hắn, y lại có cảm giác như đang ngước nhìn bầu trời chói lọi, rực rỡ đến lóa mắt.
***
Chú thích:
- Cửu Phái Nhất Bang (九派一幫): 10 môn phái võ thuật lớn nhất đại diện cho Chính phái, bao gồm: Thiếu Lâm, Võ Đang, Hoa Sơn, Nga Mi, Côn Luân, Không Động, Điểm Thương, Thanh Thành, Hải Nam (Cửu Phái) và Cái Bang (Nhất Bang).
0 Bình luận